Phần I
Truyền thuyết
Đất chùa, Sông Tiền và bước chân Tổ Hoằng Ân
( 1850 — 1914 )
Về địa lý — nhân văn: Đất chùa hiện tại khi xưa Năm 1855, nơi đây là khu rừng dầu cổ thụ (thù dù), trải dài từ Kinh Cựu Hội đến Kênh Đất Sét cặp ven Sông Tiền, khi đó cù lao ( Cồn Viêng ) đuôi cồn còn nằm khoảng trên chợ Cái Tàu Thượng trong tình trạng đang bồi dần, do bờ đất Phong Mỹ ( Trần Quốc Toản ) lở và tấp qua tạo thành đuôi Cồn Viêng, từ từ trồi dần lên. Sau này người dân gọi là đuôi Cồn Cái Dứa ( tức cây dứa gai mọc nhiều ), hiện nay khỏi Tòng Sơn ( ba mũi ) .
Vào khoảng năm 1895, nơi đây vẫn còn sầm uất, ghe đánh cá từ Nam Vang đi xuống và từ biển đi lên, trao đổi mua bán với nhau tại Cồn Cái Dứa này.
Truyền thuyết kể rằng vào năm 1895 Tổ HOẰNG ÂN Húy MINH KHIÊM – Ngài phát nguyện đi du hóa Phật pháp nơi đất Phương Nam 20 năm – Thuở ấy đường sá khó đi, không ngựa xe, đa số di chuyển bằng thuyền bè hoặc đi bộ. Nên Ngài quá giang chiếc ghe bầu bán nước mắm của người dân Phan Thiết, từ Sài Gòn đến biên giới Việt Nam và Campuchia. Trên quãng đường đi theo dòng Sông Tiền đến đuôi Cồn Cái Dứa bỗng dưng trời đất âm u nổi lên cơn bão liên tục 5, 6 ngày. Chiếc ghe bầu phải tấp vào bờ tránh bão, chờ qua cơn bão để tiếp tục đi… Tất cả đều lên ven rừng chặt lá đốn cây, căng lều để ẩn náu. Đêm nọ đám thương thuyền lên bờ để ngủ cho thoải mái; Lúc lên quên hạ cây đòn dài ( tấm ván ) bầy chuột trên bờ nghe hơi nước mắm, chúng xuống ghe tung hoành khoét thủng đáy ghe, làm ghe hư hỏng bị chìm. Đám thương thuyền kéo nước mắm lên bờ, bán quạ bán diều rồi chia nhau mạnh ai nấy về xứ.
Tổ HOẰNG ÂN chơi vơi, đành sửa túp lều tương đối rộng thoáng ở đây và chờ cơ hội để tiếp tục theo chí nguyện. Đêm đêm Ngài tụng Kinh, ban ngày người dân xung quanh vùng tìm đến thăm hỏi, phát tâm trợ duyên cơm nước; Ngài thuyết Pháp độ sinh dẫn dắt mọi người tu tập, ai nghe cũng đều cảm mến, người tìm đến nghe pháp mỗi ngày một đông. Sự quy ngưỡng ấy ngày càng lan xa, lan truyền rộng đến tai Ông THỢ ĐỨC( Hậu Tổ Lỗ Ban thời bấy giờ ). Vì sự tranh tài ghen tỵ — háo thắng…
Bữa nọ Ông THỢ ĐỨC Tuyên Bố với mọi người:
“ Để hôm nay ta cho ông Thầy chùa này, lấy đầu làm mõ, gõ cho mấy người nghe ”.
Ông THỢ ĐỨC nói thế, có số người vốn mến mộ Tổ, họ lén đi vào thảo am để báo cho Tổ biết trước để chuẩn bị đối kháng. Tin ấy chốc lát lan truyền khắp xóm, họ kéo nhau theo Ông THỢ ĐỨC để xem “ THẦY PHÁP Và THẦY chùa đấu chưởng ”.
Khi vô tới am của Tổ, Ông THỢ ĐỨC liền lấy tay mở cái khăn đỏ buộc trên đầu, ông ta quơ trước mặt Tổ và nói: “ Ông Thầy chùa kia tu dữ há ” Vừa dứt câu Ông THỢ ĐỨC buông khăn, hai tay nắm chặt tự cú lên đầu mình liên tu bất tận….
Vừa cú vừa rên: Ôi! Đau quá….. Ôi! Nhức quá…..
Lúc đó dân chúng xem coi họ thấy Ông THỢ ĐỨC mặt đỏ bừng, mồ hôi nhễ nhại, họ xúm nhau quỳ xuống bạch với Tổ: Thầy quả thiệt là “ Cao tay ấn ” Xin Thầy xả ấn ra đi chứ có bề gì làng xã làm khó dễ.
Tổ trả lời: “ Mèn ơi! Tôi có biết Ấn Pháp gì đâu mà xả…. Thôi, nói với ổng xuống sông rửa mặt rồi lên đây đàm đạo ”
Tổ vừa dứt lời thì tự nhiên Ông THỢ ĐỨC dừng tay không còn cú lên đầu nữa, Ông liền chấp tay xá lạy Tổ rồi đi xuống sông rửa mặt sau đó lên quỳ gối trước Tổ lẩm bẩm xin lỗi gì đó… Thế là cuộc “ Đấu chưởng ” Kết Thúc.
Bà con cùng xúm nhau tọa đàm trong hòa khí, kẻ lo chè cháo, người trà lá đàm đạo cho đến tối rồi giải tán dần. Từ hôm ấy người dân trong vùng đều có niềm tin vào Phật Pháp — Ông THỢ ĐỨC cũng ở nơi thảo am này, ban ngày Ông te rẹt đó đây, tối thì về ngủ với Tổ…. độ chừng một vài tháng.
Một hôm nhân buổi đông người Tổ Tuyên Bố: “ Thảo am này, không chỉ là thảo am để tạm dừng chân, mà sau này sẽ trở thành Ngôi Phạm Vũ, ai ở nơi đây chuyên tâm tu hành sẽ đắc đạo ”. Hôm nay tôi được Ông ĐỨC kế thế Hoằng Dương Phật Pháp, tôi giao lại thảo am này để tôi tiếp tục tròn ước lời phát nguyện du hóa 20 năm nơi xứ Nam Kỳ này… rồi hôm nào đó ( không rõ ngày tháng ) Tổ định hướng đi bộ dọc sông Tiền, thẳng hướng đến Tân Châu — Châu Đốc… Lịch sử kể lại: chùa Tây An ở Núi Sam do Tổ khai sáng xây dựng ( căn gốc tồn tại đến hôm nay ? ).
Phần II
Huyền thoại
Cây roi sắt và sự xuất hiện của Thầy Lê Văn Ngưu
Trở lại ngôi chùa này từ khi Tổ HOẰNG ÂN Húy MINH KHIÊM giao lại cho Ông Thợ Đức ( khoảng chừng từ năm 1895 đến năm 1902…1903 ). Thời gian này Thợ Đức chỉ đi đi về về nhưng vẫn bám trụ không buông bỏ — người ta ước chừng năm 1910 (canh Tuất) có Ông tên LÊ VĂN NGƯU không biết nguồn gốc xuất xứ từ đâu ? Cũng không rõ thân thế ở Xứ nào ? Được Ông Thợ Đức dẫn về đây cũng ở 1 thời gian, rồi Thợ Đức giao lại Ngôi Thảo Am này và nói với mọi người rằng: Hai chân ta vốn hay đi đó đây, nay ta có Ông NGƯU này — ta ủy thác giao phó, ở đây có Ông NGƯU chăm lo… Kể từ đó Thợ Đức bặt tăm tích luôn, không biết chết sống ở đâu ? vào năm nào tháng nào ? chỉ để lại cho Ông ( Thầy ) LÊ VĂN NGƯU 1 Cây Roi Sắt ( bằng đồng đỏ ).
Phần III
Hình thành ngôi chùa
“chùa Thầy Ngưu” — khoảng 1912 – 1914
Thầy LÊ VĂN NGƯU từ năm 1910 ( Canh Tuất ) Thầy đã ở nơi thảo am này — chẳng biết Thầy tu Pháp môn gì trong Phật Giáo, ngày tối tiếp cận những bà con mỗi khi có bệnh đến nhờ Ông Thầy cứu chữa, Ông không dùng thuốc men hay Kinh Chú mà chủ yếu dùng lời nói, cử chỉ qua hình tướng: Nói năng, La hét v.v… Tóm tắt giống Thầy Phù thủy, có điều là ai đến đây cũng đều hết bịnh cả ( bệnh tà ma dựa nhập… ) Nhất là con nít khó nuôi hay khóc đêm, trợn trắng, trợn dọc đến ông thảy đều mạnh giỏi lớn khôn. Bởi thế, mỗi ngày một đông, người dân Họ đem con đến “ Ký bán ” cho Ông nuôi nhiều vô số kể. Vì thảo am chật hẹp, bà con tự động góp công, kẻ đốn cây người chặt tre, kẻ mang lá, người công quả xúm nhau góp sức tạo dựng Thảo Am tương đối rộng, từ ấy truyền miệng với nhau thành ngôi chùa ( chùa không có tên ) Dân làng hay gọi quen là “chùa THẦY NGƯU”.
Vậy là nơi đây có chùa kể từ đó chừng khoảng Năm 1912 ? — 1914 ?
Phần IV
Huyền thoại về tâm linh
Lời nói, cử chỉ và bốn âm “Hừ Hư Hứ Hư”
Phong cách tu hành đặc biệt của Thầy NGƯU như nói trên, Ngài không biết chữ, không thuộc Kinh Phật, không thờ Phật, cũng chẳng thấy niệm Phật… còn về bùa chú,… Người ta chẳng thấy ông vẽ chữ bùa nào, chẳng buồn đọc câu thần chú nào dù bên “ Lỗ Ban Sát ” hay bên “ Chúc Do ”.
Nhưng về mặt huyền bí, các cụ bô lão kể lại những việc các cụ đã từng chứng kiến. Trường hợp một người bệnh về cõi âm “ Thủy tộc Long Cung ” ( mắc nàng dưới ) thân nhân dẫn đến đây, bệnh nhân cười nói la hét, tay chân bị trói, buông ra gặp ai nấy đánh, miệng trào bọt mép…
Thầy bảo thân nhân mở trói, Ngài dùng mực tàu, son tàu, lọ chảo v.v… Ngài bảo thân nhân hãy tháo bỏ hết những gì trên người bệnh ra đi, rồi ngài lấy son, mực bôi trên thân người bệnh. Chính Ngài cũng tự bôi quằn quện khắp người. Sau đó, Ngài buộc dây ngang lưng người bệnh ( bất luận nam hay nữ ) rồi dẫn đi nhiều vòng, miệng chỉ dùng 4 chữ:
“ HỪ HƯ HỨ HƯ ”
Độ Khoảng 3 Vòng — Khi xong Ngài nói: “ Đi về ”… Thân nhân dẫn người bệnh xuống sông tắm rửa rồi mặc quần áo. Điều lạ là sau đó người bệnh dần tỉnh táo và sinh hoạt bình thường, đi về nhà bình phục luôn.
Còn Tà tinh Quỷ mị nhập dựa vác dao rượt chém loạn xạ, được người thân đem đến chỗ Ngài, Ngài bước đến bàn thờ lấy CÂY ROI SẮT gõ xuống bàn 1 cái, người bệnh bật ngửa và quỳ lên van xin… Ngài gõ cây roi thêm 3 lần kêu: “ Đi về ” sau đó người ấy tỉnh hẳn hết bệnh luôn.
Lại có 1 lần gia đình nọ có 1 em bé bệnh nặng, chở xuống cho Thầy nhờ Thầy cứu chữa; từ vàm Cái Tàu Thượng đi vô gặp lúc nước ròng mà chiếc ghe thì quá lớn ( chở trên 200 giạ lúa) cùng 5, 6 người thân nhân đi theo, khi đến khúc cua ( chợ đường Đắp) nước chỗ đó cạn khô, chiếc ghe bị mắc cạn giữa đường không đi được, đành chờ nước lớn… trong lúc chờ đợi, em bé đã ngưng thở, thân nhân khóc lên thảm thiết, người dân 2 bên bờ xuống thăm hỏi thì ra em bé đã ngưng thở. Dân chúng bàn nói: đã chở đến đây rồi thì ráng vào năn nỉ Ông Thầy coi ổng có cứu được không ? Biết đâu còn duyên cứu chữa..
Đó rồi, kẻ dùng dây kéo ghe, người chạy riết vào am lạy Thầy và trình bày: ………
Thầy NGƯU:“ Nó chết rồi thì đem về chôn, bây đưa nó vào đây để làm mắm hay sao?”
Họ:xúm nhau van xin, lạy khóc…
Ngài:Thôi đem nó vô đây ta coi.
—:Dạ, thưa Thầy chiếc ghe mắc cạn đi vô không được.
Ngài:Thì dùng dây đỏi buộc ghe kéo vô.
—:Thưa Thầy con kéo không đi!
Ngài:Nè, lấy dây của tao buộc kéo thử coi.
Nói rồi Thầy NGƯU bước lại bàn thờ lấy cuộn chỉ vá đồ đưa ra bảo: Hãy buộc con bọ ghe rồi kéo riết vô đây, người nhận sợi chỉ ngớ ngẩn, người đi theo sau nói: Thầy đưa thì ông nhận mà làm theo Thầy đi, rồi xá lui ra…
Trong đây Thầy NGƯU lấy cái mõ nhỏ, tay gõ cốc cốc, miệng phát ra âm:
“ HỪ HƯ HỨ HƯ, HỪ HƯ HỨ HƯ… ”
Ngoài kia chiếc ghe lướt bùng như đi trên mặt nước, người cầm cuộn chỉ kéo trên bãi sông mà đi muốn không kịp… khi tới bến Chùa, bồng em bé lên đưa cho Thầy.
Thầy nói: “ nó chết ngắt rồi ” Sau đó Ông liền bế em bé đứng trước bàn thờ, ông quơ quơ đảo đảo miệng vẫn dùng từ: “ HỪ HƯ HỨ HƯ ”…
Bà con trong xóm đến chùa coi rất đông, họ nói khẽ với nhau rằng: Chúng ta cố gắng chụp bắt em bé đừng để nó rơi xuống đất ( chứng tỏ trước đây cũng có trường hợp tương tự, nên dân chúng mới biết việc làm này); Ai ai cũng đưa tay phòng thủ. Thầy NGƯU quơ quơ mấy vòng rồi ông phóng ngược em bé ra phía sau lưng, bà con chụp bắt được và rồi em bé khóc ré lên, thân nhân vừa khóc vừa lạy vừa cảm ơn ríu rít… Và còn nhiều và rất nhiều việc làm chữa trị bệnh suốt quãng đời ( 15 năm) của Thầy NGƯU, nơi đây không kể hết.
Về mặt Phật sự như kể trên, Thầy không biết Chữ, Kinh luật, Khoa nghi của Thiền môn, Ngài không rành — Nhưng danh đức của Ngài, chốn Sơn môn ai cũng nghe danh và biết đến. Mỗi khi chùa nào ở nơi đâu có lễ lượt, trai đàn… quý Thầy đều thỉnh Ngài đến Chứng dự… Khi Ngài đến, quý Thầy nhường cho Ngài Nguyện Hương, Khai Chung Bảng, hoặc Khai Kinh… Ngài cũng vâng theo, có điều là Ngài không ứng dụng câu Kinh hay bài kệ gì cả! Ngài chắp tay rồi xướng một câu: “ Bố Tộ Là Cái Tô” Rồi từ đó ban nghi lễ muốn tán tụng gì thì tùy nghi, có ai không hiểu, che miệng cười hoặc tỏ cử chỉ xem thường… Ngài nói: quý ông chê tôi dốt, “ Tôi Xin Giao Đám” rồi Ngài đi xuống… chùa ấy bị suy hoại không cất lên nổi. Điển hình chùa Thiên Phước (xẻo tre). Khoảng năm 1922, chùa có Khai Trai Đàn do Hòa Thượng Phổ Lý làm Chủ Sự, cũng Thỉnh Thầy NGƯU vào làm Hòa Thượng Chứng Minh — Cung An Chức Sự — Khai Chung Bảng xong, xuống dược thạch ( cơm chiều) trên Tợ của Hòa Thượng dâng đồ chay ( là nghi án dành riêng cho các Bậc tôn túc), Ngài ( Tổ Ngưu) cầm đũa gõ miệng chén rồi nói: “ Thỉnh ta làm Hòa Thượng chứng minh mà tiếc với ta 1 con gà luộc ” thôi ta “ Giao Đám ” Nói rồi Ngài quẩy khăn gói ra về… Ban tổ chức chạy theo năn nỉ…
"chùa này suy phế 60 năm nhá!"
( theo lời kể của Ông Chủ ỨNG và Ông Cả MẬU Cha của ông HAI Y — Ông Hai Y là Cha của Trung Tướng Huấn ).
Kết quả hiện thật — Từ năm 1922 đến năm 1982 ( 60 năm ) Chùa hoang phế đìu hiu, mãi đến năm 1982 được GHPGVN cử Hòa Thượng Thích Thiện Thông về Trụ trì và phục hưng lại như hiện nay.
Tóm lại, Ngài còn huyền ký nhiều Chùa, nhiều đám nữa!
Thầy NGƯU Viên tịch năm 1925, Ngôi mộ được an táng phía sau cánh tả hậu của Chùa. Thời điểm Ngài viên tịch người dân vô cùng khó khăn dưới sự cai trị thời Pháp, nên không thể xây Tháp hay dựng Bia kiên cố. Hơn nữa lúc sanh tiền người dân chỉ phát tâm cúng dường nhang đèn, dĩa trái cây; Ngài cũng không nhận tiền để lập ngân quỹ cho Chùa.
Bà con nơi đây lại quá nghèo, phải lo chạy trốn giặc và mưu sinh cho cuộc sống, vì vậy phần MỘ của Thầy hiện nay đã thất lạc…
Đến đây chúng ta không khỏi lắng lòng suy ngẫm về cõi đời vô thường giả tạm này. Khi còn sinh thời, làm được việc lợi ích cho người, thì biết bao người tìm đến nương nhờ, cầu xin giúp đỡ; Nhưng khi hết duyên — hết thời rồi, không còn khả năng nữa thì mỗi người lặng lẽ rời đi, ít ai ngoái lại.
“ Khi nào bạn hữu sum vầyBây giờ chén rượu cuộc kỳ vắng thiu ”.
Suốt 8 năm từ Năm 1925 đến Năm 1933, hầu như không có ai đến thắp nhang cho Thầy, cho Phật. Ngôi chùa trở nên hiu quạnh.
“ Cây hương nhện bủa tơ ra đóVách sập bìm leo gió lẻn vào ”.
Thời gian 8 năm chỉ có ông Hai ở xóm mương cô 7 Tiến, mỗi chiều đến đốt hương,.. độ 6 năm ông chết, thế là chùa hoàn toàn vắng vẻ. Thỉnh thoảng lâu lâu có người vạch vách chui vào đốt 1 cây hương…
Phần V
Kế thế & Trùng tu
Sư Bà Diệu Thể, Hòa thượng Trí Đức và tám đợt trùng tu
chùa Long Phước · ảnh tư liệu
Đến năm 1933, Sư Bà ( Cố Ni Trưởng ) Thích Nữ Diệu Thể có đi lên Cái Tàu Thượng để thăm vấn an sức khỏe Sư Cụ ( Hòa Thượng ) Thích Quảng Đạt hay còn gọi là Sư Ông Cổ Cò, Ngài là Thầy của Bác Giáo Thọ Bửu Đồng — Bửu Vạn — Bửu Chánh chùa Phước Hội ( còn gọi là chùa Bà Lê ) — chùa An Long ( Hòa Thượng Huế ).
Hầu chuyện với Sư Cụ được một lúc, Sư Cụ ngài nói nửa thật nửa đùa: “ Mấy cô ham thích chùa giàu, chứ chùa nghèo chừng nào mới ở… ”
Sư Bà ( Cố Ni Trưởng ) Diệu Thể chắp tay xá Sư Cụ và bạch rằng: “ Dạ, bạch Thầy con đâu có ý nghĩ tu ở chùa giàu, con nguyện nơi nào có thờ Phật không ai nhang khói Kinh kệ, con xin ở đó để Phụng Sự tu hành bất kể giàu nghèo!”
Sư Cụ Quảng Đạt gật đầu và nói: À! tâm nguyện vậy quý quá! Tôi thấy trong rạch Mương chùa có cái chùa bỏ lâu hoang phế, nhang tàn khói lạnh, Cô dám ở đó không ? Sư Bà đáp: Dạ bạch Thầy! ở đâu con cũng dám... Qua hôm sau Sư Cụ cùng Bác Bửu Vạn dẫn Sư Bà Diệu Thể đi viếng chùa ( chùa Thầy Ngưu ).
Khi đến nơi — xung quanh chùa cỏ rác um tùm, ngôi chùa nhô lên nóc lá, bìm bìm, hắc sửu bò phủ phục che lấp hết xung quanh không biết cửa nào đi vô, Sư Bà phải mò tìm cửa chui vào… Sư Bà vừa đi vừa tặc lưỡi cảm thương.
Sau đó Sư ông Quảng Đạt hỏi rằng: Sao ? Cô thấy nơi này có thể tu được không ?
Sư Bà cung kính thưa: Dạ bạch Thầy! Con xin Phát Nguyện ở lại nơi đây để Phụng Sự Kinh Kệ, Hương khói tu hành — Và lời Phát Nguyện hứa Nhận của Sư Bà vào khoảng Tháng 4 Năm 1933 đến Ngày 19 Tháng 9 Năm Quý Dậu (1933). Sư Bà chính thức được Ban Hội Tề của xã Hội An Đông Thỉnh về đảm nhiệm Trụ Trì.
Hôm Lễ Nhập Tự đông đảo bà con trong xóm đến tham dự, ai nấy đều rất vui mừng vì từ nay chùa đã có Thầy về ở, không còn cảnh hoang phế như trước nữa. Trong giai đoạn sơ khai này, Sư Bà Diệu Thể tự tay chặt cây phát cỏ, dọn dẹp và vận động bà con phát tâm tu sửa. chùa chiền, cửa nẻo, và những chỗ hư hỏng dần được sửa sang lại…
Những ngày đầu buổi Sáng dọn dẹp chùa chiền, đến Chiều Sư Bà về chùa Phước Hội nghỉ ngơi, về sau có một vài bà lão tình nguyện ở lại ngủ đêm với Sư Bà, từ đó không còn phải đi về Phước Hội nữa.
Đến Rằm Tháng 10 Năm Quý Dậu ( 1933 ), Sư Bà rước Thân Mẫu và người Chị thứ 8 từ Sa Đéc về đây cùng tu hành — Thân mẫu của Sư Bà là Sư Bà Diệu Tịnh cũng Xuất Gia với Tổ Phi Lai và người chị thứ 8 là Sư Bà Diệu Nhân cũng đã xuất gia tu hành từ năm 1927 tại chùa Giác Hoa ( chùa Bà Hai Ngó ) Cái Dầy Bạc Liêu — Từ đó, ba mẹ con cùng an trú tại ngôi chùa này cho đến cuối đời.
Tông phái Phi Lai — chùa Phi Lai, Châu Đốc.
Trong ảnh có Sư Bà Diệu Thể, Sư Bà Diệu Tịnh, Sư Bà Diệu Nhân, Sư Bà Diệu Nga và HT Thiện Hoa.
Xã Châu Thới — huyện Vĩnh Lợi — tỉnh Bạc Liêu.
Năm 1935 Sư Bà lên chùa Giác Hoàng ( Bà Điểm — Hóc Môn ) thăm người em út là Hòa Thượng Thích Trí Đức, khi ấy Hòa Thượng đang theo học với Sư Cụ Giác Hoàng và cũng trong thời gian này Hòa Thượng Trí Đức chuẩn bị đi ra Huế trú tại chùa Báo Quốc để tiếp tục việc học đạo.
Trong lúc 2 chị em trò chuyện về tình hình Chùa, việc rước mẹ và chị về cùng tu hành… thì Hòa Thượng Trí Đức tạm ngưng việc ra Huế. Thêm vào đó kinh phí còn thiếu thốn, lại gặp thời cuộc chiến sự Đông Dương, PHÁP — NHẬT nhiều biến động, nên Hòa Thượng Trí Đức trở về đây. Sư Bà Diệu Thể nhường chức Trụ trì cho người em trai là HT Thích Trí Đức; từ đó 4 mẹ con cùng nương tựa nhau tu học và sinh sống nơi chùa này.
Tám đợt trùng tu
Một thế kỷ kiến tạo
- Đợt 11937
Trùng tu lần đầu & đặt tên Chùa
Sư Cụ Huệ Viên đặt tên chùa là: chùa Long Phước, kiến tạo lại mái ngói tương đối rộng rãi và thông thoáng.
- Đợt 31947
Đắp nền, xây kiên cố
Sau khi Pháp phóng hỏa lần thứ hai (chỉ cháy một phần khu Bếp nhờ ông Mười Chụp kịp xách nước chữa cháy), HT Trí Đức, Sư Bà Diệu Nhân, Sư Bà Diệu Thể cùng ban Hội Tề làng quyết định xây dựng lại chùa kiên cố hơn. Vợ chồng Ông Hồ Văn Bổn và Bà Phan Thị Tỵ phát tâm tháo gỡ căn nhà trên của mình để cúng dường làm nhà Tổ.
- Đợt 4Ất Mùi 1955
Hoàn thành Chánh điện
Đến tháng 7 ÂL Khánh Thành chùa xong, thì 2 hôm sau bị ăn cướp vô; may HT Trí Đức đã chôn giấu trước số tiền 12 đồng và 8 cắc ngoài gốc cây Dầu, định trả nợ tiệm quán mua sắm lễ vật cho ngày Khánh thành.
- Đợt 51964
Cột bê-tông, mái ngói
HT Trí Đức gởi tiền về trùng tu: dựng cột bê tông, xây tường gạch và lợp mái ngói tạm thời.
- Đợt 6Nhâm Thân 1992
Trùng tu hy hữu nhất
HT Nhật Quang phát nguyện trùng tu, mượn ghe, xin từng viên gạch, từng bao xi măng, tự tay thiết kế và đứng ra trực tiếp xây dựng — do hoàn cảnh thiếu thốn, không có thuê thợ hồ, cả phụ hồ cũng không có tiền để thuê, tự Ngài làm luôn.
- Đợt 72009 – 2010
Xây Giảng Đường & diện mạo kiên cố hôm nay
Năm 2009 xây Giảng Đường để chư Tăng và Phật tử gần xa trở về tu học có chỗ nghỉ ngơi, sinh hoạt; cuối năm hoàn thiện. Năm 2010 tiếp tục đợt trùng tu cho diện mạo khang trang, uy nghiêm như hôm nay — tuy nhiên kinh phí thiếu trước hụt sau, không có khả năng thuê người giám sát kỹ thuật nên việc thi công chưa được trọn vẹn. Qua năm tháng mưa nắng, mái chùa dần thấm dột, nước ngấm vào trong làm hư hại Trần.
- Đợt 819 / 1 / Bính Ngọ — 2026
Tâm nguyện lớn — Sửa lại mái Chùa
Thầy quyết định khởi công sửa lại Mái Chùa: phá dỡ mái cũ, gia cố kết cấu và lợp ngói lại cho vững chắc và an toàn. Ngoài hạng mục này ra, mọi kiến trúc khác vẫn giữ nguyên hiện trạng — không xây mới, không mở rộng. Đây là lần Trùng Tu Thứ 8, cũng là Tâm Nguyện lớn trong cuộc đời hoằng hóa của Thầy.
Mầu nhiệm khi Thân mẫu viên tịch (1939)
Năm 1939 Thân mẫu là Sư Bà Diệu Tịnh (Nguyễn Thị Nga) viên tịch ( ngày 26/1 Năm Kỷ Mão ). Sự viên tịch của Sư Bà Diệu Tịnh được xem là rất mầu nhiệm. Trước đó Ngày 25/1/1939 Sư Bà không ăn uống và nằm yên bất động như người nhập định. Đến sáng ngày 26 ÂL tự dưng Sư Bà nói: “ Tránh chỗ cho Thầy Đại Đức Phi Lai ngồi, Thầy vào thăm mẹ kìa ”
Sau đó Bà tự chắp tay khai khẩu đọc 4 câu Kệ Khai Kinh:
Kệ Khai Kinh
VÔ THƯỢNG THẬM THÂM VI DIỆU PHÁPBÁ THIÊN VẠN KIẾP NAN TAO NGỘNGÃ KIM KIẾN VĂN ĐẮC THỌ TRÌNGUYỆN GIẢI NHƯ LAI CHƠN THẬT NGHĨA
Đọc dứt lời Kệ, Sư Bà buông nhẹ hai tay xuống và trút hơi thở cuối cùng một cách an nhiên.
Từ sau khi Thân mẫu là Sư Bà Diệu Tịnh viên tịch, do nhân duyên thế sự chi phối, Sư Bà Diệu Thể cùng Thầy Thiện Hữu kết thành gia thất và sinh hạ 2 người con trai là: Hòa Thượng Nhựt Quang và Hòa Thượng Nhựt Thông, tiếp nối đạo nghiệp về sau. Sư Ông Thiện Hữu và Sư Bà đồng thuộc tông phái Phi Lai. Khi chùa Phi Lai bị giặc Miên thiêu hủy, Thầy Thiện Hữu từ Châu Đốc trở về đây.
Khói lửa chiến tranh (1939 – 1947)
Trong khoảng thời gian từ năm 1939 đến năm 1945, đời sống tại chùa hết sức khó khăn. Tuy vậy, đạo chúng xuất gia vẫn quy tụ được khoảng 9 - 10 vị. Bấy giờ tình hình chiến sự lan rộng, phong trào đấu tranh chống thực dân diễn ra khắp miền Nam, các phe phái xung đột liên miên khiến đời sống nhân dân rơi vào cảnh bất ổn và đau thương. Những ai từng sống trong giai đoạn từ năm 1930 đến 1959 đều đã rõ được sự khốc liệt của thời kỳ biến động ấy, và nhận thức thời tao loạn vô nghĩa này.
Trở lại đời sống tại Chùa, ba chị em cùng nương tựa nhau tu hành trong hoàn cảnh nghèo khó, khổ sở vô cùng, không cục đất chọi chim, tới mùa hanh khô có nhà nào làm không hết đất thì ba chị em xin mượn đất đó trồng rẫy, trồng khoai để có chút ít gạo thóc sống qua ngày.
Năm 1945, chiến sự giữa quân đội thực dân Pháp và lực lượng Việt Minh, khi quân đội thực dân Pháp ruồng bố lực lượng Việt Minh, 2 bên giao tranh ác liệt, binh lính tử trận nhiều nơi, sau khi kết thúc trận chiến chúng kéo xác người tử trận về, lúc đi ngang qua chùa, chúng đã phóng hỏa đốt cháy khiến ngôi chùa bị thiêu rụi hoàn toàn.
Đây là nỗi đau thương nhất!!! Phật Trời bể tan hoang, không còn chiếc đũa ăn cơm, đời sống vốn đã khó khăn lại còn thêm khốn đốn, hoạn nạn chùa cháy. Nào là cảnh đói khổ, nào là lo tu sửa lại Chùa chiền, Ban ngày phải chạy giặc, Ban đêm lén ra đồng cuốc rẫy trồng khoai để duy trì sự sống. Cũng trong Năm ấy Nhật Bản đảo chính Pháp tại Đông Dương, chúng là phát xít, tất cả lúa gạo miền Tây chúng chụm đốt cho nhà máy đèn…
Năm ấy ngoài Bắc có hơn 1 triệu người chết vì đói, trong Nam ăn độn khoai lang; chùa Long Phước cũng chịu chung hoàn cảnh khốn khó của thời cuộc.
Ngày 19 Tháng 7 Năm 1947, quân Pháp tiếp tục mở cuộc ruồng bố bằng máy bay và pháo kích tại khu vực này, sau trận giao tranh tại khu vực Mương Chùa, dân chúng ở các nơi chạy về đây trú ẩn, thương vong rất lớn, bị chết rất nhiều. Khi chiến sự rút đi, quân Pháp còn phóng hỏa đốt chùa 1 lần nữa, lần mồi lửa này may nhờ có ông Mười Chụp, ông kịp thời xách nước chữa cháy, nên chỉ cháy một phần khu Bếp… chùa khi ấy cũng bằng tre lá kết cấu tạm bợ, không được kiên cố lắm ( gần muốn sập ).
Ngài Tôn Chứng vãng sanh
Vào thời điểm này do không còn nhớ rõ ngày tháng, trong hàng huynh đệ có vị đệ tử của HT Trí Đức — Pháp danh Thiện Trụ được suy cử làm Tôn Chứng cho nên người ta quen gọi ông là Ông Tôn Chứng, khi ấy ông khoảng trên 40 tuổi, Ông rất lười làm công việc nhưng tụng kinh thì không bỏ lỡ thời nào; Có lần ông bệnh, HT Trí Đức bảo: Ông bịnh nên nghỉ đi, để đại chúng người ta tụng, nhưng ông vẫn đem mõ chuông xuống quá đường tụng vang trời. Ông đánh mõ rất lớn, tiếng tụng sang sảng cách 400 - 500 mét còn nghe.
Tháng 7 năm 1936 chùa có tổ chức Trai Đàn 2 Ngọ ( 2 ngày ), Ban Hội Tề cùng đông đảo dân chúng đến làm công quả che rạp, dựng nhà đàn, dọn dẹp v.v… Ông TÔN CHỨNG chỉ nổi mụt nhọt trong nách làm nóng lạnh, ông cũng ra đứng chỗ làm trông coi.
Ông chủ Bái (Lê Văn Liêng):Ông tiếp chuyển lá lên lợp nhà đàn này kẻo nắng!
Ông Tôn Chứng:“ Làm chay xong tôi chết ”
Ông Chủ Liêng:“ Huynh thì vậy! ở không thì thôi! kêu làm thì chết! ”
Ông TÔN CHỨNG:“ Tôi nói thật à! Qua làm chay này tôi chết! ”
Quả thật như lời ông nói. Tạ đàn chiều ngày 13, sáng ngày 14 ông TÔN CHỨNG nguyên ngày đó không ngồi dậy tụng kinh nổi, cơm nước cũng buồn ăn — đến chiều ngày 14 Sư Bà Diệu Nhân rước Thầy Tư Nhu vào xem mạch hốt thuốc, Ông TÔN CHỨNG nói: Thôi Cô ơi! Đừng rước thầy làm chi… À! Nếu Cô có ra ngoài Vàm thì ghé mua cho tôi vài con khô cá lù đù để tôi ăn cháo. Sư Bà Diệu Nhân đi rước Thầy, Thầy Tư Nhu vào xem mạch thì mạch của ông Tôn Chứng quá yếu hình như.. dứt mạch. Sư Bà đi nấu một tô cháo trắng và nướng ít con khô đem lên, ông ngồi dậy ăn tô cháo tầm 3 chén, ăn cháo xong ông nằm xuống yên lặng, trời sắp tối quý ông quý bà lần lượt kéo nhau về chùa lạy Sám Hối vì hôm đó là tối 14 ÂL. Sau khi lạy Sám Hối xong, bà con Phật tử chuẩn bị đi ra về; Hòa Thượng Trí Đức đến giường của ông Tôn Chứng, thăm ông và thấy sắc diện của ông thất thần, Hòa Thượng chạy ra kêu mọi người ở lại hộ niệm cho Ông, tất cả mọi người đều quay lại, Ông Tôn Chứng nhờ Sư Bà Diệu Nhân mở tủ lấy dùm tôi bộ quần áo cho ông thay — Ông còn nói: Cô an tâm! tôi đã giặt sạch sẽ hết rồi!, đó rồi ông nằm xuống, Hòa Thượng Trí Đức cùng bà con Phật tử đứng chung quanh giường, đồng nhất tâm tụng Kinh A DI ĐÀ, đến lúc Tụng BÁT NHÃ ông vẫn nằm chắp tay, miệng tụng theo rõ ràng đến chỗ niệm HỒNG DANH PHẬT, Hòa Thượng Trí Đức bảo: Ông niệm thầm thôi chứ niệm như vầy làm sao chết được, Ông nghe lời miệng nhép nhép ( niệm thầm ) theo đến khi thấy miệng ông không còn đọc theo nữa, xem lại là Ông đã an nhiên xả báo thân, ra đi trong chánh niệm rất tự tại.
Truyền thừa qua các thế hệ
Năm 1959 Sư Ông Huệ Viên Trụ Trì chùa Vĩnh Hòa — Bạc Liêu viên tịch, ký thác giao lại ngôi chùa Vĩnh Hòa cho Hòa Thượng Thích Trí Đức, năm 1960 Hòa Thượng Thích Trí Đức về Bạc Liêu kế thế, khi ấy chùa Long Phước chỉ còn 2 vị Sư Bà Diệu Nhân, Sư Bà Diệu Thể ở lại tiếp tục giữ gìn ngôi chùa Long Phước này.
Đến năm 1964 HT Trí Đức gởi tiền về trùng tu ngôi chùa lại ( đợt 5 ): Dựng cột bê tông, xây tường gạch và lợp mái ngói tạm thời, tuy nhiên đến năm 1975 chiến tranh vẫn còn diễn ra ác liệt ở Mương Chùa, nơi đây là điểm để pháo kích, hành quân cũng lấy Mương Chùa làm chốt điểm, làm dân chúng nơi đây vô cùng khắc khổ, chùa Long Phước cũng thế, 2 Sư Bà ( trước thường gọi là Sư Cô) đã kiên trì giữ gìn ngôi Tam Bảo… sau mùa thu hoạch lúa mùa, 2 Sư Bà khuya sáng công phu xong, 2 Bà quảy bao và thúng ra ruộng mót lúa ( lúa của chủ đất người ta gom còn sót lại), suốt mùa cũng kiếm được 5-10 giạ để nhín nhúc ăn cũng được 1 thời gian. Trồng từ cây chuối, cây ớt, bán từng bọc tương chao, kiếm tiền để mua nhang dầu, thuốc men…
Cuộc sống tu hành thời ấy vô cùng gian nan, khó thể diễn đạt hết bằng lời, 2 Sư Bà thậm chí bệnh cũng không có 1 viên thuốc cảm để uống, chỉ hái lá cây nấu nước xông, 1 chai dầu song thập 2 sư bà cất để xài cả năm không dám lãng phí.
Đến năm Ất Mẹo 1975, Việt Nam chấm dứt chiến tranh, toàn dân và ở chùa phải sống trong thời kỳ chế độ bao cấp, thiếu thốn lương thực, nhiều năm liền phải ăn độn bo bo thay cơm, cả chùa không có 1 tấm vải may Y, may quần áo mặc, phải xin vải “ xả tang ” của người ta, cắt may rồi nhuộm lem luốt để mặc.
- Năm 1975 Thầy ( Hòa Thượng Thích Nhật Quang) cùng Bào Đệ là Hòa Thượng Thích Nhật Thông ( chủng tử của Sư Bà Diệu Thể) mới về chùa Long Phước để chia sẻ khổ nạn cùng 2 Sư Bà.
- Năm 1980 Thầy ( Hòa Thượng ) Nhật Quang đứng ra kêu gọi việc thành lập “ HỘI GIỖ TỔ” — Mục đích để chư Tăng có dịp gặp gỡ nói lên tình đoàn kết như bó đũa.
- Năm Nhâm Tuất 1982 thì Sư Bà Diệu Nhân Viên tịch.
- Năm 1992 ( Nhâm Thân ) Ngôi chùa trước đây làm tạm bợ không được kiên cố, theo thời gian đã xuống cấp nghiêm trọng, cây kèo, đòn tay bị mối mọt ăn rệu rã — Thầy ( HT ) Nhật Quang Phát Nguyện trùng tu lại, Ngài mượn ghe, xin từng viên gạch, từng bao xi măng, Ngài tự tay thiết kế và đứng ra trực tiếp xây dựng, do hoàn cảnh thiếu thốn không có thuê thợ hồ — cả phụ hồ cũng không có tiền để thuê, tự Ngài làm luôn. Đây là đợt trùng tu Lần Thứ 6 hy hữu nhất trong lịch sử xây dựng chùa Long Phước; đợt xây dựng này tạm được tuy không kiên cố lắm bởi gạch xin được các lò họ cho kích cỡ không đồng đều cục thì teo, cục non lửa, không đều gạch cộng thêm “ thợ nghiệp dư ”… Hoàn cảnh chùa nằm trong hẻo lánh, mấy chục năm phai nhòa, ít ai nghe biết — Thầy phải đi xa giao thiệp, giảng dạy khắp nơi để kết duyên lành với chư Tăng và Phật tử, từng bước tạo dựng niềm tin và sự trợ duyên cho Chùa.
Rồi nhân duyên cũng đến, năm 2009 chùa xây dựng Giảng Đường để cho chư Tăng và Phật tử gần xa trở về đây tu học có chỗ nghỉ ngơi, sinh hoạt. Đến cuối năm 2009 Giảng Đường đã hoàn thiện.
chùa Long Phước xưa
Năm 2010 đợt trùng tu lần thứ 7 như hiện nay, Tuy dáng vẻ có kiên cố khang trang và uy nghiêm — Nhưng thời điểm xây dựng Thầy gặp rất nhiều khó khăn về kinh phí thiếu trước hụt sau, không có khả năng thuê người giám sát kỹ thuật nên việc thi công chưa được trọn vẹn kiên cố.
Diện mạo sau lần trùng tu thứ 7
Qua năm tháng mưa nắng mái chùa dần bị thấm dột, nước ngấm vào bên trong làm hư hại Trần, lâu ngày đã làm cho Sắt thép bị rỉ sét bung ra và tấm Trần rơi xuống, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho đại chúng. Trước thực trạng đó Thầy quyết định vào Ngày 19 Tháng Giêng Năm Bính Ngọ ( 2026 ) sẽ Khởi công Sửa lại Mái Chùa, phá dỡ mái cũ, gia cố kết cấu và lợp ngói lại cho vững chắc và an toàn. Ngoài hạng mục này ra, mọi kiến trúc khác vẫn giữ nguyên hiện trạng — Không xây mới, không mở rộng. Đây là lần Trùng Tu Thứ 8 ( cũng là Tâm Nguyện lớn trong cuộc đời hoằng hóa của Thầy ). Mong rằng ngôi chùa tương đối Vĩnh Hằng và Phát Huy Phật Pháp ngày càng thêm hưng thịnh.
Khởi công sửa lại Mái Chùa
Những dòng kể lịch sử chùa LONG PHƯỚC đến đây xin tạm khép lại, và Chúng tôi cũng xin lỗi khi kể chuyện nửa thực, nửa hư, có chỗ cũng phải hư cấu để câu văn mượt mà chứ thực tế không phải vậy. Mong rằng quý độc giả chỉ nương theo đây để tạm hiểu dòng chảy lịch sử trên 100 năm trôi qua.
Niên đại
Niên đại đầy đủ
Dòng chảy biến cố — từ rừng dầu cổ thụ đến lần Trùng Tu thứ 8
- 1855 – 1895 · Tiền sử
- 1855
Rừng dầu cổ thụ ven Sông Tiền
Đất chùa hiện tại khi xưa là khu rừng dầu cổ thụ ( thù dù ), trải dài từ Kênh Cựu Hội đến Kênh Đất Sét. Cồn Cái Dứa từ từ trồi dần lên do bờ đất Phong Mỹ lở và tấp qua.
- 1895Phần I
Tổ Hoằng Ân ghé thảo am
Bấy giờ đuôi Cồn Cái Dứa còn sầm uất — ghe đánh cá từ Nam Vang xuống và từ biển lên, trao đổi mua bán nhộn nhịp. Tổ HOẰNG ÂN — Húy MINH KHIÊM phát nguyện du hóa Phật pháp 20 năm tại Phương Nam; gặp bão phải tấp vào Cồn Cái Dứa, dựng thảo am tụng Kinh thuyết Pháp.
- 1895 – 1925 · Khai sơn
- ≈ 1902 – 1903
Tổ giao thảo am cho Ông Thợ Đức
Sau cuộc “ Đấu chưởng ”, Ông Thợ Đức quy ngưỡng và xin ở lại. Tổ Hoằng Ân nhận Ông làm người kế thế, để lại lời huyền ký “ thảo am sau này sẽ thành Ngôi Phạm Vũ ”, rồi đi bộ dọc Sông Tiền đến Tân Châu — Châu Đốc khai sáng chùa Tây An ở Núi Sam. Từ đó Ông Thợ Đức “ đi đi về về ” gìn giữ am tranh cho đến khoảng 1902 – 1903.
- 1910Phần II
Thầy Lê Văn Ngưu kế thế
( Canh Tuất ) — Ông Lê Văn Ngưu, không rõ thân thế xuất xứ, được Ông Thợ Đức dẫn về thảo am. Sau một thời gian, Thợ Đức ủy thác toàn bộ am tranh cho Thầy Ngưu, chỉ để lại một cây roi ( dân gian quen gọi là “ Cây Roi Sắt ”, thực ra bằng đồng đỏ ) rồi bặt tăm tích.
- ≈ 1912 – 1914Phần III
“ chùa Thầy Ngưu ” thành hình
Bà con tự động góp công đốn cây, chặt tre, mang lá tạo dựng Thảo Am rộng — nơi đây có chùa kể từ đó.
- 1925Phần IV
Thầy Ngưu Viên tịch
Ngôi mộ an táng phía sau cánh tả hậu của Chùa. Vì thời cuộc khó khăn, không thể xây Tháp hay dựng Bia.
- 1925 – 1933
8 năm hoang phế
Hầu như không có ai đến thắp nhang. Chỉ có ông Hai ở xóm mương cô 7 Tiến mỗi chiều đến đốt hương — độ 6 năm ông chết, chùa hoàn toàn vắng vẻ.
- 1933 – 1947 · Sư Bà Diệu Thể & chiến tranh
- 19 / 9 / Quý Dậu 1933Phần V
Sư Bà Diệu Thể chính thức Trụ Trì
Ban Hội Tề xã Hội An Đông thỉnh Sư Bà về đảm nhiệm Trụ Trì.
- Rằm tháng 10 Quý Dậu 1933
Rước Thân Mẫu và Chị về
Sư Bà Diệu Thể rước Sư Bà Diệu Tịnh ( thân mẫu ) và Sư Bà Diệu Nhân ( chị thứ 8 ) từ Sa Đéc về cùng tu hành.
- 1935
HT Trí Đức trở về Chùa
Sư Bà Diệu Thể nhường chức Trụ trì cho người em trai là HT Thích Trí Đức; 4 mẹ con cùng nương tựa nhau tu học.
- Tháng 7 / 1936Tóm lược
Ông Tôn Chứng vãng sanh
Trai Đàn 2 Ngọ; ông THIỆN TRỤ ( Tôn Chứng ) tiên đoán: “ Qua làm chay này tôi chết! ” và an nhiên xả báo thân trong chánh niệm.
- 1937
Đợt 1 — Đặt tên chùa Long Phước
Sư Cụ Huệ Viên đặt tên là chùa Long Phước; kiến tạo lại mái ngói rộng rãi và thông thoáng.
- 26 / 1 / Kỷ Mão 1939Tóm lược
Sư Bà Diệu Tịnh viên tịch — mầu nhiệm
Trước khi trút hơi thở, Sư Bà tự chắp tay đọc 4 câu Kệ Khai Kinh, rồi an nhiên thị Tịch.
- 1945
Pháp đốt cháy chùa hoàn toàn
Quân Pháp ruồng bố Việt Minh, kéo xác về ngang chùa rồi phóng hỏa — Phật Trời bể tan hoang, không còn chiếc đũa ăn cơm. Cùng năm: Nhật Bản đảo chính Pháp; nạn đói > 1 triệu người ngoài Bắc.
- 19 / 7 / 1947
Pháp ruồng bố lần 2
Máy bay và pháo kích khu Mương Chùa, thương vong rất lớn. Quân Pháp lại phóng hỏa đốt chùa — nhờ ông Mười Chụp xách nước nên chỉ cháy một phần khu Bếp.
- 1947
Đợt 3 — Đắp nền, xây kiên cố
Vợ chồng Ông Hồ Văn Bổn và Bà Phan Thị Tỵ cúng dường nhà trên để làm nhà Tổ.
- 1955 – 1992 · Truyền thừa & gian khó
- Tháng 7 / Ất Mùi 1955
Đợt 4 — Khánh Thành Chánh điện
Phần chánh điện hoàn thành, làm lễ Khánh Thành Chùa; chùa có nơi thờ tự và sinh hoạt khang trang cho đạo chúng.
- 1959 – 1960
HT Trí Đức kế thế chùa Vĩnh Hòa
Sư Ông Huệ Viên ( Trụ Trì chùa Vĩnh Hòa – Bạc Liêu ) viên tịch, ký thác giao lại cho Hòa Thượng. Năm 1960 ngài về Bạc Liêu kế thế; chùa Long Phước chỉ còn Sư Bà Diệu Nhân và Sư Bà Diệu Thể tiếp tục giữ gìn.
- 1964
Đợt 5 — Cột bê-tông, mái ngói
HT Trí Đức gởi tiền về dựng cột bê tông, xây tường gạch và lợp mái ngói tạm thời.
- Ất Mẹo 1975
Chấm dứt chiến tranh
HT Nhật Quang cùng Bào Đệ HT Nhật Thông về chùa Long Phước chia sẻ khổ nạn cùng 2 Sư Bà; cả chùa không có 1 tấm vải may Y, phải xin vải “ xả tang ” nhuộm lại.
- 1980
Thành lập “ Hội Giỗ Tổ ”
HT Nhật Quang đứng ra kêu gọi để chư Tăng có dịp gặp gỡ — tình đoàn kết như bó đũa.
- Nhâm Tuất 1982
Sư Bà Diệu Nhân viên tịch
Người chị thứ 8 của Sư Bà Diệu Thể — đồng hành cùng các Sư Bà gìn giữ ngôi Tam Bảo qua suốt những năm chiến tranh và bao cấp.
- Nhâm Thân 1992
Đợt 6 — Trùng tu hy hữu nhất
HT Nhật Quang phát nguyện trùng tu, mượn ghe, xin từng viên gạch, tự tay thiết kế và đứng ra trực tiếp xây dựng — không có thuê thợ hồ, cả phụ hồ cũng không có tiền để thuê.
- 2009 – 2026 · Hôm nay
- 2009 – 2010
Đợt 7 — Xây Giảng Đường & diện mạo kiên cố hôm nay
Năm 2009 hoàn thiện Giảng Đường cho chư Tăng và Phật tử gần xa trở về tu học. Năm 2010 đợt trùng tu lần thứ 7 cho diện mạo kiên cố khang trang, nhưng kinh phí thiếu trước hụt sau, không có khả năng thuê người giám sát kỹ thuật.
- 19 / 1 / Bính Ngọ 2026
Đợt 8 — Khởi công sửa lại Mái Chùa
phá dỡ mái cũ, gia cố kết cấu và lợp ngói lại cho vững chắc và an toàn. Đây là Tâm Nguyện lớn trong cuộc đời hoằng hóa của Thầy.
Phụ lục
Tóm lược 2 sự kiện
Hai chứng tích vãng sanh và lời huyền ký xưa
Ngài THIỆN TRỤ ( TÔN CHỨNG ) chuyên tụng Kinh — quyết định được ngày vãng sanh.
Sư Bà DIỆU TỊNH ( Thân Mẫu của HT TRÍ ĐỨC và Sư Bà DIỆU NHÂN, Sư Bà DIỆU THỂ ), Sư Bà Diệu Tịnh vốn không biết chữ, không thuộc Kinh — chỉ chuyên trì Niệm PHẬT — khi xả báo thân phát âm được bài Kệ Khai Kinh, rồi an tường thị Tịch.
Huyền ký
Cũng minh chứng được lời Huyền Ký của TỔ HOẰNG ÂN, húy MINH KHIÊM — trước khi Ngài rời khỏi am tranh này, Ngài đã Tuyên Bố với mọi người rằng:
“ THẢO AM NÀY KHÔNG CHỈ LÀ THẢO AM TẠM DỪNG CHÂN, MÀ SAU NÀY SẼ TRỞ THÀNH NGÔI PHẠM VŨ, AI Ở NƠI ĐÂY CHUYÊN TÂM TU HÀNH SẼ ĐẮC ĐẠO ”.
Long Phước
Ngày 27 tháng 12 năm Ất Tỵ
( 14 — 02 — 2026 )
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

